Hỗ trợ trực tiếp

Hotline: 098 3258 829

Fax:

Tư vấn online: Tư vấn Tư vấn

Liên kết website

Liên kết website

Tổng lượt truy cập: 170051

Số người online: 20

Oxy hòa tan Đá bọt

Tin tức >> Kỹ thuật & Tài Liệu

Nhu cầu oxy hoà tan trong nuôi tôm cá thâm canh

11/19/2010 7:56:08 AM

Tài liệu kỹ thuật (tham khảo)

Đây  là bài bắt đầu viết cho trang kỹ thuật nuôi tôm (cá), tôi muốn nhấn mạnh đến sự quan trọng của yếu tố oxy hoà tan trong nuôi trồng thuỷ sản thâm canh,

Điều kiện cho 1 nghề nuôi tôm thành công và bền vững là phải có 2 cái giàu : một là là giàu về tiền, hai là giàu về tri thức.

Trong trang kỹ thuật nầy tôi (tác giả) đã tích luỹ kinh nghiệm thức tế qua hơn 10 năm trong nghề nuôi tôm (đi nuôi thuê cho các đại gia từ Bắc tới Nam ), tích luỹ từ kiến thức khoa học trong sách , internet, Tôi phải sử dụng nhiều tư liệu trích dịch từ nước ngoài và trong nước và xin phép các tác giã trên cho tôi được sử dụng tư liệu đó (bài viết và hình ảnh ) nhằm phổ biến kiến thức khoa học cho người nuôi tôm cá (người xem ) được biết, nhằm nâng cao nghề nghiệp trong nghề nuôi tôm cá ở Việt Nam, hoàn toàn không tư lợi cá nhân khi sử dụng các tư liệu (hình ảnh ) của các tác giả  và xin cám ơn các tác giả về tư liệu, hình ảnh được sử dụng.

 

Phần I: đặc tính oxy

  • Thành phần oxy trong không khí.

nguồn : Lenntech

  • Sự cần thiết oxy trong sự sống

  • Nồng độ oxy cần thiết cho vạn vật

Qua nghiên cứu của các nhà khoa học, mổi loài đầu có nhu cầu tối thiểu cho sự sống và phát triễn. Ta gọi là nồng độ oxy cần thiết ví dụ như con người sống ở vùng nhiệt đới thì nhu cầu oxy cho hô hấp và chuyển hoá sinh học cho cơ thể là 20,99 % oxy trong không khí, ở động vật dưới nước ( gần mặt nước ) như tôm,cá từ 4- 8 mg/lít oxy hoà tan…

 

Phần II: nhu cầu oxy hoà tan cho tôm, cá tiêu biểu

  • Căn cứ tài liệu khoa học ( aquatext, FAO…)

Oxy hoàn tan (ppm)

Ứng xử của tôm

0.3

tôm bị chết

1.0

tôm bị ngạt thở

2.0

tôm không lớn được

3.0

tôm chậm lớn

4.0

tôm sinh sống bình thường

5.0 - 6.0 - 7.0

tôm khỏe mạnh và tăng trưởng nhanh

Nguồn nước ngoài
  • Nuôi tôm tại Việt Nam và thế giới

a- các giống tôm đang nuôi phổ biến

               

  tôm Sú VN ( Penaeus monodom )                 tôm Sú Nhật Bản(penaeus Japanicus )

                           

    tôm Chân Trắng ( L.Vannamei )                   tôm càng xanh(macrobrachium rosenbergii )

b- các hình thức nuôi tôm ( tôm Sú ) :

+ nuôi quảng canh ( còn gọi là nuôi sinh thái ) : mật độ < 3 con/m2., không có hệ thống tạo oxy, thức ăn từ thiên nhiên ( cá tạp hoặc không cho ăn ).

+ nuôi quảng canh cải tiến : mật độ < 10 con/m2, có lắp đặt quạt guồng, không có hệ thống tạo oxy đáy, thức ăn tự nhiên hoặc một ít thức ăn tổng hợp. Diện tích nuôi từ 3 – 10 ha mặt nước trở lên.

+ nuôi thâm canh : mật độ > 15 con/m2 – 60 con/m2 ( tôm Sú ) hoặc trên 80 con/m2 – 140 con/m2 ( tôm chân trắng ). Có lắp đặt quạt guồng và hệ thống oxy đáy, thức ăn tổng hợp hoàn toàn .

+ nuôi siêu thâm canh : mật độ > 150 con/m2 . Có lắp đặt quạt guồng và hệ thống oxy đáy, thức ăn tổng hợp hoàn toàn. Nếu nuôi trong race way có thể lên đến 500 con/m2 ( thì không dùng quạt guồng vì diện tích bể nuôi nhỏ, trung bình ngang 3 m dài 50 m trở lên và oxy hoa tan phải sử dụng oxy nguyên chất ( 98% oxy pure trở lên ).

Nguồn NCI International.

c- Chu kỳ đời sống của tôm

Nguồn nước ngoài.

Trong tự nhiên tôm Sú ( P.monodom ), tôm Chân Trắng ( L.vannamei ) phải trải qua 4 giai đoạn như sau:

1. Giai đoạn trưởng thành ( adult): với tôm Sú ( P.monodom) giai đoạn trưởng thành ( adult – còn gọi là tôm mẹ, tôm bố - brook-stock ) thường sống ở ngoài khơi, nước mặn thường đạt trên 35 ‰ và độ sau trung bình từ 30 -80 m. Con cái thường đạt trọng lượng từ 180 - 380 gram thì ôm trứng ( thời gian từ 16 tháng trở lên). Con đực đạt trọng lượng từ 180 gram – 240 gram thì bộ phận sinh dục phát triển, sẳn sàng cho giao vỹ. Lúc nầy tàu chuyên đánh bắt tôm bố mẹ dùng lưới cào ( lưới vét ) bắt về để chuẩn bị khai thác cho đẻ thành post để nuôi dưỡng thành tôm thịt.

Nguồn tư liệu tác giả tôm mẹ nhập từ Malaysia

Với tôm chân trắng ( L.vannamei ), tôm mẹ trọng lượng 40 gram, tôm đực 35 gram là sẵn sàng giao vỹ

Tôm bố mẹ chân trắng SPF của cty Molokai-Hawaii

2.  Giai đoạn 2 ( đẻ trứng đã thụ tinh): Tôm có thể đẽ nhiều lần nhưng chỉ nên cắt 1 mắt ( tôm mẹ ) để kích thích tôm mẹ mang trứng sau những lần đẻ trước và để đàn con khoẻ mạnh trong lúc nuôi thương phẩm.

3.  Giai đoạn 3 ( ấp nở và nuôi thành postlarval ): sẽ trãi qua 4 chu kỳ : nauplii, Zoaplii, mysis, postlarval.

         

       naplius                   protozoae                      mysis                                      postlarval

                                Nguồn của ông Khoo Eng Wah chủ tịch công ty STAC

4.  Giai đoạn 4 ( nuôi tôm thương phẩm còn gọi là giai đoạn thiếu niên juvenile) . Post thường chọn từ ngày 12 ngày tuổi trở lên ( vì cơ thể tôm đã hình thành hoàn chỉnh các cơ quan chức năng để phát triển thành tôm thịt, ít bệnh hơn trong quá trình nuôi ) được thả vào ao nuôi thường có hình chử nhật với diện tích từ 2.000 m2 – 5.000 m2 ( nuôi thâm canh hoặc siêu thâm canh) . Thời gian nuôi khoảng 4 tháng (tôm Sú), 3 tháng (tôm chân trắng ).

 

d- Nhu cầu oxy trong nuôi tôm thâm canh và trong tự nhiên ( ao quảng canh ).

Oxy hoàn tan (ppm)

Ứng xử của tôm

0.3

tôm bị chết

1.0

tôm bị ngạt thở

2.0

tôm không lớn được

3.0

tôm chậm lớn

4.0

tôm sinh sống bình thường

5.0 - 6.0 - 7.0

tôm khỏe mạnh và tăng trưởng nhanh

Như vậy ta thường so sánh tại sao tôm trong ao quảng canh thường lớn gấp đôi, gấp ba hơn tôm nuôi trong ao thâm canh. Có nhiều yếu tố trong ao tự nhiên (ao quảng canh  từ 3 ha trở lên ) tốt hơn về môi trường và dinh dưỡng, và trong đó yếu tố rất quan trọng là oxy hoà tan ( dissolved oxygen ) lúc nào cũng đạt từ 6 mg/lít trở lên (vào cả ban đêm),  lúc đó trong ao nuôi thâm canh do sự thiếu quan tâm về lượng oxy hoà tan trong lúc nuôi tôm ( quan tâm nhiều hơn về thức ăn và thuốc trị bệnh tôm-ít chú ý tới môi trường nước nuôi tôm), thiếu vốn đầu tư, không biết thiết bị nào làm tăng oxy hoà tan hữu hiệu từ đáy lên mặt nước nhất là vào ban đêm.

Và đó là kết quả tôm hay bị bệnh (tốn tiền thuốc, tôm bệnh chết, hao hụt số lượng, giá thành tăng lên…). Nhiều năm qua thực tế đã xãy ra và người nuôi tôm ở Việt Nam đã trả giá vô cùng lớn lao cho sự thất bại nầy.

 

Hơn nữa chính lượng oxy hoà tan được cung cấp qua các thiết bị trong quá trình đang nuôi thuỷ sản sẽ làm giảm nồng độ B.O.D, C.O.D NH3, CO2, H2S, CH4…làm môi trường nước nuôi giảm chất độc (kim loại nặng ), khí độc từ những thức ăn rơi vãi, tôm , cá bài tiết, rong rêu tảo chết, gió bụi, nước mưa, nước châm hồ tôm…( đây là nguyên nhân do các vi khuẩn kỵ khí ( thường ở đáy ao có sẳn trong hồ nuôi thuỷ sản  và thiếu oxy hoà tan ) gây nên. Do đó nuôi tôm theo truyền thống ( quan niệm cũ ) phải thất bại vì chưa hiểu nhiều về nhu cầu oxy hoà tan, đồng thời với sự thiếu hụt tài chính đầu tư hệ thống cung cấp oxy hoà tan hữu hiệu, thiếu logic trong quá trình nuôi thuỷ sản ở mật độ thâm canh và siêu thâm canh ( thất bại từ vụ nuôi lần 2, 3 trở đi ). Nói tóm lại nuôi tôm thành công và bền vững là “NUÔI NƯỚC”

 

Phần III-  Các thiết bị nâng cao oxy hoà tan dùng trong nuôi tôm hiện nay đang sử dụng.

  • Quạt guồng (padle wheel ) : sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản rất hữu hiệu trong việc tạo dòng chảy (gần giống trong tự nhiên ), phá phân tầng nước (stratification) giúp hồ nuôi tôm, cá điều hoà nhiệt độ ( ban ngày, ban đêm, mùa động, mùa hè…), đồng thời gom phân, thức ăn thừ, rong tảo chết, rác…vào giữa hồ để dễ hút ra ngoài ao theo định kỳ.

Tuy nhiên quạt guồng chỉ tạo oxy hoà tan trên bề mặt hồ nuôi 10 cm lý do nước đậm đặc hơn không khí trên 995 lần ( theo bảng dưới đây ).

nhiệt độ 
°C

độ đậm đặc
kg/m3

nhiệt độ
°C

độ đậm đặc
kg/m
3

 

 

 

 

0

999.87

16

998.97

1

999.93

17

998.80

2

999.97

18

998.62

3

999.99

19

998.43

4

1 000.00

20

998.23

5

999.99

21

998.02

6

999.97

22

997.80

7

999.93

23

997.57

8

999.88

24

997.33

9

999.81

25

997.07

10

999.73

26

996.81

11

999.63

27

996.54

12

999.52

28

996.26

13

999.40

29

995.97

14

999.27

30

995.68

15

999.13

 

 

Do đó  oxy được tạo ra khi quạt guồng chuyển động thì oxy tạo ra sẽ bốc hơi vào không khí ngay phần lớn ( do sức đẩy Archimes ).

Nên theo quan niệm cũ, người nuôi tôm thường ngộ nhận : Quạt guồng tạo oxy hoà tan đủ cho nuôi tôm, cá thâm canh.

Ngoài ra chưa kể đặt vị trí sai trong hồ nuôi, và tốc độ quay của quạt, gây tốn thêm tiền đầu tư về vật tư và năng lượng (trong thời gian nuôi), làm giá thành tăng và không hiệu quả, tỉ lệ tôm, cá sống thấp (trung bình sống từ 30% - trên 50% một chút ).

Dưới đây là  hình ảnh vị trí quạt guồng đặt đúng trong ao tôm.

Hình ảnh quạt guồng đặt sai vị trí:

  

  

  • Các dạng máy khác

  

      Tác giả sản xuất năm 2001

Tác giả thực nghiệm một số loại phân phối khí năm 2003

   

Tác giả sản xuất aeration ceramics năm 2006  Tác giả sản xuất aeration stone năm 2007

 

Phần IV: các phuơng pháp nâng cao oxy hoà tan trong nuôi trồng thuỷ sản.

      Các yếu tố chi phối đến oxy hoà tan trong nước:

      1- sức đẩy Archimes                                  

      2- định luật Henry ( nhiệt độ, độ sâu)

      3- nước ngọt, nước mặn (oxy bảo hoà)

      4- chất lượng nước ( trong, đục, nhiều cặn bả lơ lửng, tỉ trọng dung dịch…)

      5- đường kính bọt khí   (hiệu suất hoà tan của sản phẩm).         

      6- lượng khí hoà tan ( tác nhân hoà tan từ không khí, pure oxygen, lưu lượng khí cung cấp, áp suất khí cung cấp…)

Trong ao nuôi thuỷ sản ( tôm cá ) ta xem một vài tác nhân hoà tan oxy như sau :

  • oxy hoà tan từ tự nhiên trong ao, hồ, sông , rạch, biển ...:
  • tác nhân từ gió.( xem bảng)

Loại nuớc, nguồn của các dữ liệu

Tốc độ

m/sec

Độ sâu

m

Nhiệt độ

0C

K

g/m2/hr at 0% bảo hoà

Nước đứng yên

(Hutchinson, Becke, quoted by Haney, 1954)

0.0

-

20 – 25

0.034

(Adenay, quoted by Kehr, 1938)

0.0

-

-

0.03 – 0.08

Nuớc chuyển động

 

 

 

 

Nước khuấy động

 

-

-

25

0.09 – 0.74

( quoted by Haney, 1954)

 

0.01

0.1

0 – 10

0.037

Nuớc tuần hoàn cạn

0.01

0.1

10 - 20

0.043

(Streeter, Wright and Kehr, 1936)

0.01

0.1

20 – 30

0.047

Bùn trong nuớc tuần hoàn

0.05

0.45

25 – 26

0.38

(Kehr, 1938)

0.15

0.45

25 – 26

1.5

Suối và ao

(Imhoff and Mahr, 1932)

-

-

-

0.08

New YorkHarbour(Gould, 1921)

tidal

-

-

0.23

Bể chứa với máy tạo sóng

(Borst, quoted by Phelps, 1944)

-

1.8

-

0.31

Mặt biển

Redfield, 1948)

 

 

 

 

Mùa hè

-

-

12 – 20

1.1

Mùa đông

-

-

3 – 7

5.2

Silver River, Florida, July 21, 1955 (Odum)

 

 

 

 

Subtraction-of-respiration method

0.21

2.77

23

0.92

Dye-measured-turnover method

0.21

2.77

23

1.00

Green Cove Springs, Florida(Odum) From carbon-dioxide by respiratory-quotient method

0.3

0.23

24

0.55

Small rivers, diurnal oxygen curve analyses in Table 2

-

0.5-3.

-

0.6-4.3

Ohio River below Cincinnati (Velz, 1939)

0.05-0.09

4.8

15-25

1.5-5.0

Bubbles and drops (K given per area of drop or bubble)

 

 

 

 

Air bubble (Krogh, quoted by Redfield, 1948)

-

-

37

13.1

Air bubbles (Ippan, Adenay, Spuler and Schaab quoted by Haney, 1954)

-

-

20-25

2.8-28.

Water drops (Whitman, quoted by Haney, 1954)

-

-

24

22-34.

 

Bảng 4: hằng số của chuyển dịch khí cho oxy   (nguồn: Odum, H.: Primary production in flowing water. Limnology Oceanography 1956 1/2 (102-107 p.)

Từ đó trong ao cá tỉ lệ khuếch tán là tuỳ thuộc vào sự pha trộn của các tầng nước tạo nên chủ yếu là do năng lượng gió. Oxy đưa vào từ khí quyển được khuếch tán là t 1,5 g/m2/ngày trong ao nhỏ và 4,8 g/m2/ngày trong ao lớn, nơi mà gió mạnh hơn.

Trung bình ở Việt Nam 1 ao tôm thường là 5.000 m2 x 1,2 m = 6.000 m3 nước ( ao nhỏ) như vậy 1 ngày gió cung cấp là :  1,5 g/m2/24 giờ x 5.000 m2 = 7.500 g oxy hoà tan/24 giờ = 0,3125 k/giờlà quá ít so với nhu cầu nuôi thâm canh 6 mg/lít/giờ = 36 kg/giờ oxy hoà tan ( >115,2 lần ).

  • Tác nhân từ dòng chảy, thế năng : như thác, triều lên xuống…cũng mang lại một số oxy hoà tan trong ao hồ tự nhiên
  • Quang hợp tảo: Là tác nhân nâng cao oxy hoà tan vô cùng quan trong trong quá trình nuôi thuỷ sản.

Theo kinh nghiệm với ao nuôi thuỷ sản, với tảo tốt , bền vửng, độ trong đo bằng đĩa sechi 30-35 cm từ mặt nước thì quang hợp vào buổi trưa cao nhất trên 10 mg/lit thì vào ban đêm sẽ ít thiếu hụt oxy hoà tan. Vì thế phải tránh việc mất tảo, tảo tàn, ao bị phèn, thay nước nhiều lần (hoặc tránh việc rò rĩ nước nhiều).

nhiệt độ °C

nước ngọt mg/lít

nước mặn mg/lít

0

14.6

11.7

5

12.8

10.4

10

11.3

9.3

15

10.1

8.5

20

9.1

7.8

25

8.2

7.1

30

7.5

6.5

bảng nồng độ oxy hoà tan bảo hoà theo nhiệt độ, môi trường nước ngọt và nước mặn                      

Nguồn  the free freshwater and saltwater aquarium

 

Trường hợp vào tháng 10 AL trở đi , ngày ngắn đêm dài ( ít quang hợp hơn, hoặc bị mưa nhiều, trời ít nắng, ít gió ) thì vào ban đêm phải sử dụng hệ thống tạo oxy hoà tan nhân tạo tối đa ( như máy cung cấp khí lớn nhiều, chạy suốt đêm và ngày, nhiều hệ thống khuyếch tán oxy hoà tan nhiều hơn…)

  • Nâng cao oxy hoà tan bằng thiết bị nhân tạo:

Trong ngành nghề nuôi trồng thuỷ sản tôm, cá thâm canh và siêu thâm canh. Vấn đề nâng cao oxy hoà tan trong ao nuôi là vô cùng và vô cùng quan trọng vì :

Mật độ vật nuôi cao ( trên 60 – 500 con/m2 ) thì tảo sẽ còn ít hơn ( nên quang hợp ít hơn vào ban ngày – oxy hoà tan ít hơn ), thậm chí không có tảo ( race way )

Thức ăn thừa nhiều hơn làm đục ao nước nuôi là môi truờng vi khuẩn kỵ khí phát triển và tạo ra nhiều khí độc như H2S, NH3, CH4, CO2 … làm môi trường nước bị ô nhiễm, hàm lượng kim loại nặng như sắt, chì kẽm. Phospho … lắng động gây độc cho thuỷ sản.

Đây là nguyên nhân chính cho việc nuôi tôm cá trên toàn thế giới bị thất bại, không ổn định, không bền vững vì ao hồ ngày càng bị ô nhiễm nặng ( chưa kể nguồn cung cấp nước nuôi thuỷ sản bị ô nhiểm từ các nhà máy công nghiệp thải ra chất thải chưa xử lý, hoặc do thuốc trừ sâu rầy, phân bón dỏm từ nông nghiệp thải ra ao hồ…).

Các thiết bị nhân tạo oxy hoà tan nói trên (1 và 2 ) . Ngoài ra còn phương pháp tạo oxy hoà tan bằng hoá học như máy tạo Ozon ( O3)-quá đắt trong quá trình sử dụng ( vì khối lượng một ao tôm thường vài ngàn m3 đến hàng trăm ngàn m3 nước-quá lớn để đầu tư máy ozone diệt khuẩn và tạo oxy hoà tan) và gây độc hại cho người sử dụng nếu sử dụng lâu dài hoặc có thể dùng oxy nguyên chất trên 98% vào ao, hồ nuôi tôm …

Máy ozone công nghiệp(minh hoạ)

 

Máy tạo oxy nguyên chất trên 98% (minh hoạ )

 

Tác giả: Nguyễn Hữu Nghĩa

Xin trân trọng kính chào

 

 

Các tin tức khác